Loading...
You are here:  Home  >  Văn Hóa  >  Current Article

Cuối Hè và Học (P1)

Bởi   /   July 26, 2014  /   Comments Off on Cuối Hè và Học (P1)

Bởi Phạm Ngọc Cương

 

(TPC) – Khổng tử được nhớ đến với châm ngôn: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Socrates được nhớ đến với châm ngôn: “Hãy nhận thức chính mình”.

 

Khổng tử và Socrates (Ảnh: Internet).

 

Phần 1 : Vòng qua vài nền giáo dục

Cuối Hè không ít gia đình phải nghĩ đến chuyện trường lớp. Học và kiếm tiền là chuyện dài và còn thiết thân với nhiều người. Trong hai chuyện đó cái nào khó? Thực chả có chuyện nào là khó cả nếu đích chỉ là học cho qua quít hay lượm vài đồng bạc lẻ thì ngay con nít ở đâu cũng thường làm được. Mọi cái chỉ rất khó nếu ta muốn tìm cách đi cho bài bản hướng đến đỉnh mà thôi.

Việt Nam nhận ảnh hưởng của rất nhiều nền giáo dục khác nhau. Tàu có, Pháp có, Nga có, Mỹ có… Nhưng do nhiều hoàn cảnh từ địa lý, lịch sử, chính trị và con người mà cho đến giờ tận giờ có hai nền giáo dục vẫn ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam là Trung và Xô.

Giáo dục Trung Hoa về cơ bản có thể gọi là nền giáo dục có quán tính luôn ngoái nhìn về đằng sau. Người Tàu dậy nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác rằng vua sáng nhất của họ là Nghiêu – Thuấn – Vũ. Vạn thế sư biểu là Khổng Tử… Phương cách giáo dục của Tàu trải qua cả mấy ngàn năm cũng chỉ là làm sao đúc người nay cho giống được người xưa vì xưa là khuôn vàng thước ngọc. Luôn ngoái lại đằng sau đầy hoài niệm vì quá ít niềm tin vào năng lực thực tại! Líu lo ca ngợi cái quá khứ là vĩ đại là muôn năm thì mặc nhiên phủ định đà tiến hóa của lịch sử, triệt tiêu sức sáng tạo và không dám cả dụi mắt mà nhìn cho kỹ cái hiện hữu, đón nhận và thích ứng với cái mới cái hay hơn phải đến và tất đến trong tương lai. Việt Nam đã và đang đánh mất rất nhiều thời gian và trí tuệ của cả thầy, trò, tiền của, tâm huyết và hi vọng của toàn xã hội trong việc nhồi nhét nhau tới bội thực các môn học như triết học Marx – Lê Nin, kinh tế chính trị học Marx – Lê Nin, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử đảng…Việc này có thể gọi đủ tên từ thói thích ăn mày dĩ vãng tới giáo điều, sơ cứng, phi thực tế, nhưng về gốc rễ cũng là một kiểu dập theo quán tính giáo dục hướng cổ, cốt đào tạo lòng trung của Trung Hoa. Chỉ từ khi Trung Quốc nhoài người ra ôm cái tư duy giáo dục thực tiễn của phương Tây họ mới thoát sự đì đẹt cả mấy ngàn năm, bắt đầu cất cánh và có hôm nay.

Liên Xô có nhiều thành tựu trong giáo dục. Tuyệt vời nhất là biết đổ tiền ra cho phát triển khoa học cơ bản. Thời Soviet các viện hàn lâm có vai trò khoa học thật khủng khiếp. Ý tưởng của các viện sỹ thường được nhà nước tài trợ tối đa để thực hiện. Nền giáo dục Soviet là nền giáo dục sẵn sàng tốn kém để trồng cây đại thụ tức tạo vườn ươm thiên tài. Mà thiên tài thì ở đâu cũng hiếm nên dẫu thuốc luyện đan được cấp phát tứ tung mà số thí sinh lên đến mười thành công lực cũng không quá nhiều. Cùng tốt nghiệp mà kiến thức các tân khoa khác nhau một trời một vực. (Có thời Việt Nam từng có câu tổng kết rằng con bò mà dắt qua Quảng trường Đỏ cũng thành tiến sỹ). Tuy nhiên nhờ có nền giáo dục gắng trồng đinh lim sến táu ấy mà một nước Nga Sa Hoàng tiền công nghiệp sau mấy chục năm cất cánh thành Liên bang Soviet siêu cường thế giới. Việt Nam chưa có tiềm năng theo đuổi nền giáo dục lấy khoa học cơ bản làm nền tảng này vì chuyện hít thở cho dài hơi cũng thật không dễ tập.

Bắc Mỹ thấy rõ là đào tạo nhân tài khoa học cao cấp quá tốn kém vì vậy để bù cho lỗ hổng đào tạo của mình họ chọn cách mua hoặc dụ nhân tài thế giới về làm thuê cho họ. Nền giáo dục thiên về thực dụng thì sẽ bị chê vì tầm nhìn ngắn hạn. Nhưng nếu lý tưởng hóa quá thì sẽ làm học sinh đuối sức và dễ thành hão huyền. Cách làm của Bắc Mỹ là lấy ngắn nuôi dài, lấy thực dụng nuôi lý tưởng. Hay có thể gọi ngắn gọn là nền giáo dục thực – lý (thực dụng – lý tưởng). Bắc Mỹ chỉ nhăm nhăm tạo ra copycat. Tức các sản phẩm chất lượng tương đồng cần thiết của đòi hỏi xã hội công nghiệp. Giáo dục ra các kỹ năng (skills) tương thích. Đây chính là cái mà giáo dục Việt Nam cần theo đuổi hôm nay.

Về chuyện chính trị, như một trớ trêu của lịch sử, nói đúng hơn là do viễn kiến ngắn, cùng lợi ích nhóm của giới lãnh đạo mà Việt Nam trong hai cái xấu đã luôn chọn cái xấu hơn trước. Khi phải chọn giữa Xô và Trung thì ĐCS đã ngả về Trung trước, sau ôm hận với Trung mới rẽ qua Xô. Phải chọn giữa Trung và Mỹ thì lại quặp Trung trước, chỉ khi bẽ bàng với Trung rồi thì mới chịu hé cửa nhìn sang Mỹ. Tuy vậy về chuyện giáo dục gần đây Việt Nam đã nhướn mắt tới nền giáo dục Ây Mỹ và đó là một tín hiệu tốt đáng khích lệ.

Thầy, trò và chương trình

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vị trí người thầy và trò. Người thầy có lúc được coi là chủ thể, có lúc được coi là khách thể. Trò lúc thì là đối tượng cần được khám phá hay có lúc lại thành thực thể dẫn dắt khám phá! Thực ra các cách đặt vấn đề này đều có gì đó sai. Chủ thể phải là chương trình giảng dậy mà thầy và trò là những người cùng giúp nhau khám phá. Vì vậy mà chương trình tốt thì thường chất lượng giáo dục sẽ không tồi. Chương trình giáo dục tệ thì sự học dễ thành sáo vẹt còn thầy hay trò giỏi cũng đến thui chột tài năng. Cũng như đức trị – nơi trông chờ vào tư cách cá nhân người lãnh đạo – là phó mặc cho may rủi và nhiều phần là tan nát trong quản lý xã hội. Trong khi đó pháp trị – dẫu đích đến cuối cùng là phục vụ cá nhân- lại xếp chủ trương chính sách (luật pháp) cao hơn cá nhân và vì vậy con người lại ăn vào nề nếp với nhau. Uy quyền của thầy giáo chỉ nên là quyền của người chịu trách nhiệm đứng lớp cùng những học sinh tự do và bình đẳng.

Sức mạnh của mái trường, nếu có, là sức mạnh của một tập thể luôn dốc lòng phát triển sức sáng tạo, xiển dương song hành với đức hạnh, thiện ý và sự công bằng.

Chương trình mang tính quyết định và nó phải là tập hợp của trí tuệ tập thể, phải là bản hợp xướng kỳ diệu của nhiều ý kiến. Ở đây cần dân chủ tập trung theo đúng ý nghĩa của từ này. Làm sao để có một chương trình giảng dậy tốt? Ý chí chính trị, ý chí khai phá và canh tân giáo dục luôn tùy thuộc vào tinh hoa của từng dân tộc, đặc biệt trong những thời khắc hệ trọng của lịch sử. Giết một thế hệ nhanh nhất là cho chúng dùi mài những điều vu vơ, vô nghĩa, làm chúng ngộ nhận cái ảo là tri thức thật. Không bồi bổ mà còn làm thui chột sức sáng tạo của bản năng sinh tồn.

Hình tượng người thầy ở Bắc Mỹ đã tiêu giảm nhiều phần thiêng liêng so với quan điểm truyền thống Á Đông. Tuy vậy đây lại là điểm tốt vì nó thu hẹp khoảng cách thầy trò, thầy chỉ còn là một mắt xích của sự phân công lao động và sàng lọc xã hội. Thầy giỏi ở Bắc Mỹ là biết cách biến mình thành một công cụ tuyệt vời của học sinh nhằm khám phá kiến thức và xây dựng tư duy độc lập cho học sinh.

Nhà trường

“Nhà nước,…, là một thực thể đa dạng và chỉ nên được thống nhất thành một cộng đồng bằng giáo dục”.

Vì vậy dẫu không thể có bình đẳng về tài sản nhưng phải có sự tiếp cận bình đẳng về giáo dục công. Để hiện thực hóa điều này ở Ontario các chủ nhà mỗi năm phải đóng tiền thuế bất động sản thường xấp xỉ 1% giá trị nhà đất. Và bao giờ cũng được hỏi là muốn bỏ tiền đó cho trường công lập hay trường Thiên Chúa giáo. Vì vậy học trường công không ai phải lo đóng thêm học phí mà ngay cả sách giáo khoa, dụng cụ học tập như bút, vở… là nhà trường sẽ cấp miễn phí. Vài năm trước khi con gái tôi học lớp sáu thấy bút chì phát cho không học sinh không đủ màu và không được gọt sẵn đã thấy là bức xúc. Tôi nghĩ bọn trẻ này sướng quá không cả biết rằng có bao thiếu niên khác ở một phần bên kia của địa cầu đang phải vượt lũ hay leo cầu khỉ tìm con chữ sao bèn bảo cháu tự tìm cách mà giải quyết lấy vấn đề nhỏ ấy. Cháu viết thư hỏi ông nghị sỹ liên bang hay đi qua nhà vận động tranh cử, ông đó chuyển thư cho bộ trưởng giáo dục và cả hai ông viết thư trả lời cháu là sẽ khắc phục tình trạng đó ngay. Nhiều lúc tôi nghĩ trẻ con bên này đúng là thượng đế, vậy nền giáo dục dậy dỗ thượng đế cũng đáng để mắt vào nhìn nhận.

Sự học ở Bắc Mỹ luôn được nêu cao rõ ràng là học để kiếm việc, để sống. Đích của sự học không úp mở hay được đậy điệm bằng những mỹ từ cao quí như học để làm người, hay phục vụ Tổ Quốc, Nhân Dân… mà nhiều nơi, nhiều nước rao giảng. Điểm đến cuối cùng của giáo dục Bắc Mỹ là tạo ra những sản phẩm giáo dục có tính năng tốt đáp ứng đủ nhu cầu thị trường lao động. Học gì thường học sinh cũng được cho xem trước bức tranh tương lai là khi ra trường việc này được trả công bao nhiêu tiền một tiếng và có bao nhiêu phần trăm người tốt nghiệp ở đây ra kiếm được việc ngay trong 30 ngày, 60 ngày…hay trong năm đầu tiên.

Thực tế và duy lợi đến trần trụi.

 

[*] Bài viết được đăng lại với sự đồng ý của Việt Nam Thời Báo. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả.

Nguồn: Phạm Ngọc Cương, “Cuối hè … Và học (P1)“, Việt Nam Thời báo, ngày 19 Tháng Bảy năm 2014.

© 2014 Việt Nam Thời Báo

Bạn cũng có thể thích ...

xuongtuong_vn

Vài kinh nghiệm cơ bản về chọn tẩu hút ngon

Đọc tiếp →