Loading...
You are here:  Home  >  Nổi Bật  >  Current Article

Luật pháp hay Chiến tranh?: Lịch sử, Luật pháp quốc tế và Địa chiến lược

Bởi   /   July 11, 2014  /   Comments Off on Luật pháp hay Chiến tranh?: Lịch sử, Luật pháp quốc tế và Địa chiến lược

Giáo sư Carl Thayer báo cáo về hội nghị Đà Nẵng của Việt Nam về tình trạng quần đảo Hoàng Sa.

Bởi Carl Thayer  |  The Diplomat

Mai Xương Ngọc dịch

 Bóng ma HY981 tại Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. (Ảnh: Internet)

Vào tháng 3 năm nay, Đại học Phạm Văn Đồng và Đại học Đà Nẵng có ý định cùng hợp tác để mời các học giả nước ngoài và các chuyên gia pháp lý tham dự một hội thảo quốc tế về “Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa: Những khía cạnh về lịch sử và pháp lý” (sau này đổi tên thành Những Sự thật Lịch sử) từ ngày 19-21 tháng Sáu. Hội thảo được tổ chức tại thành phố biển miền Trung Đà Nẵng, đối diện với quần đảo Hoàng Sa.

Các nhà tổ chức hội thảo không thể thấy trước rằng hội nghị sẽ được tổ chức dưới cái bóng của một cuộc khủng hoảng trong quan hệ Trung Quốc – Việt Nam do việc Bắc Kinh đã hạ đặt một giàn khoan dầu khổng lồ vào đầu tháng Năm trong vùng biển tranh chấp gần quần đảo Hoàng Sa nhưng nằm trong khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Hội thảo có sự tham dự của hơn 120 đại biểu, bao gồm các chuyên gia được mời đến từ Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ấn Độ, Ý, Nhật Bản, Philippines, Nga, Hàn Quốc, Singapore, và Mỹ. Không có đại diện từ Trung Quốc đại lục hay Đài Loan.

Buổi đầu tiên của hội thảo bao gồm 20 tài liệu nghiên cứu được trình bày trong hai cuộc, mỗi cuộc chia làm hai phiên. Cuộc hội thảo đầu tiên tập trung vào tranh chấp về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng những tác động đến hoà bình và an ninh khu vực. Phiên họp đầu tiên tập trung vào các khía cạnh chính trị và quân sự, trong khi kỳ họp thứ hai xem xét vai trò của luật pháp quốc tế trong việc phát triển một khu vực hoà bình và an ninh.

Cuộc hội thảo thứ hai tập trung vào các tiềm năng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo luật quốc tế. Phiên họp đầu tiên nhìn vào bằng chứng lịch sử và pháp lý của các quốc gia tuyên bố chủ quyền. Kỳ họp thứ hai xem xét việc làm thế nào để tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ có thể được giải quyết theo luật pháp quốc tế.

Ngày thứ hai của hội thảo bao gồm hai hội nghị bàn tròn tập trung vào những hệ quả pháp lý và địa – chiến lược của hành động hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp.

Sau khi kết thúc hội thảo, các đại biểu đã được đưa tới một cuộc triển lãm các bản đồ lịch sử của Biển Đông tại Bảo tàng Đà Nẵng. Tiếp theo là một chuyến viếng thăm xưởng sửa chữa tàu biển để gặp chủ sở hữu tàu đánh cá Việt Nam DNA 90152, đã bị đâm và lật úp bởi một tàu Hải Giám của Trung Quốc vào ngày 26.

Ba nhóm vấn đề quan trọng đã được nêu ra tại hội thảo – bằng chứng lịch sử, vai trò của luật pháp quốc tế và những tác động của địa – chiến lược đến tranh chấp hàng hải.

Bằng chứng lịch sử

Sử gia Việt Nam và nước ngoài kiên quyết thách thức các cơ sở thực tế của tuyên bố Trung Quốc rằng Bắc Tống (960 – 1126 SCN) đã thành lập quyền tài phán có hiệu lực đối với quần đảo Hoàng Sa. Các chuyên gia pháp lý quốc tế chỉ ra rằng quyền lịch sử không còn là cơ sở trong luật pháp quốc tế cho tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ. Họ lập luận rằng bằng chứng liên quan đến việc liên tục chiếm đóng và quản lý hiệu quả sẽ có tính quyết định trong bất kỳ xem xét trọng tài nào về các tranh chấp chủ quyền.

Về mặt này, sử gia Việt Nam đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng Việt Nam đã xác lập chủ quyền và quyền tài phán có hiệu lực đối với quần đảo Hoàng Sa vào thế kỷ 17 khi các chúa Nguyễn cử đội tàu Hoàng Sa đến quần đảo Hoàng Sa kéo dài đến 5 tháng mỗi năm. Truyền thống này được tiếp tục trong thế kỷ 19 dưới triều nhà Nguyễn. Đội tàu Hoàng Sa tiến hành khảo sát, lập bản đồ các vùng biển và các địa hình trên biển, đánh bắt cá, dựng lên một ngôi miếu, và lập các bia đá chính thức đánh dấu chủ quyền của Việt Nam.

Sử gia Việt Nam và nước ngoài cũng đưa ra bằng chứng cho thấy cả Vương Quốc An Nam, một quốc gia đã trở thành thuộc địa của Pháp, và chính quyền thực dân Pháp tiếp tục duy trì sự hiện diện thường trực trong nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa từ năm 1920 đến 1974, chỉ bị gián đoạn bởi sự chiếm đóng của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Năm 1974, trong một hành động gây hấn, Trung Quốc đại lục xâm chiếm các đảo trong nhóm Lưỡi Liềm và đã đánh đuổi một đơn vị binh sĩ đồn trú của Việt Nam Cộng Hoà.

Sử gia Việt Nam và các học giả nước ngoài chỉ trích mạnh mẽ điều mà họ cho rằng Trung Quốc đã cố ý bóp méo về việc Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa trong một bức thư chính thức có chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tháng 5 năm 1958. Các sử giả chỉ ra rằng nội dung bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lá thư chỉ ghi nhận một lời tuyên bố gần đây của Trung Quốc về lãnh hải của họ.

Sử gia Việt Nam phê phán rằng một loạt các bản đồ lịch sử của Trung Quốc cho thấy đảo Hải Nam đánh dấu sự mở rộng lãnh thổ xa nhất về phía nam của Trung Quốc cho đến thế kỷ 19.

Các luật sư quốc tế đã chỉ ra rằng bản đồ không có giá trị pháp lý, trừ khi chúng được kèm vào một hiệp ước. Bản đồ có thể được sử dụng như nguồn thông tin nhưng tự nó không thể được xem như một bằng chứng về chủ quyền.

Luật quốc tế

Hội thảo quốc tế Đà Nẵng đã vinh dự có được sự hiện diên của Giáo sư Jerome Cohen của trường Đại học Luật New York. Giáo sư Cohen được công nhận là lão thành trong số các luật sư quốc tế, đặc biệt về các vấn đề pháp lý liên quan đến Trung Quốc.

Giáo sư Cohen trình bày một lập luận mạnh mẽ cho việc sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong một bài viết có tựa đề “Luật pháp hay Chiến tranh? Hãy để toà án không thiên vị làm giảm tranh chấp hàng hải ở châu Á.”

Ông Cohen cho rằng tranh chấp Biển Đông có tính chất rất phức tạp, cần đưa ra nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp để tháo gỡ. Mặc dù đàm phám song phương (và đa phương) giữa các bên tranh chấp vẫn được ưu tiên, nhưng ông Cohen lưu ý rằng các cuộc đàm phán có giới hạn của nó, và thường cần phải được bổ sung bằng các phương pháp khác. Cohen cho rằng phân xử và hoà giải quốc tế nên được ưu tiên cao hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Cohen ghi nhận việc Trung Quốc từ chối tham gia vào trọng tài bên thứ ba. Ông quan sát thấy rằng “các nhà lãnh đạo chính trị lo sợ một toà án không thiên vị có thể bác bỏ những lời khoe khoang mạnh mẽ của họ rằng luật pháp quốc tế hoàn toàn ủng hộ lập trường quốc gia của họ.” Cohen lập luận rằng “một phán quyết của bên thứ ba không nhất thiết dẫn đến một kết luận ‘được tất cả hoặc không có gì’.” Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) và những quyết định của các toà án trọng tài quốc tế khác, ông ta quan sát, có khả năng đưa ra “những quyết định tinh tế, trên thực tế là những thoả hiệp đã được cân nhắc một cách cẩn thận để phản ánh sự phức tạp của những tuyên bố chủ quyền được xem xét.”

Giáo sư Cohen khuyên Việt Nam nên đưa vụ việc của mình lên Toà án Quốc tế mặc dù Trung Quốc sẽ có thể từ chối tham gia. Điều này sẽ thể hiện cam kết của Việt Nam với các quy định của luật pháp quốc tế nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ.

Ông Cohen bày tỏ hy vọng rằng Toà án trọng tài, nếu đảm nhiệm phán xét, sẽ làm rõ một số quy định quan trọng của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Ví dụ, Toà án trọng tài có thể xác định xem các tuyên bố chủ quyền lịch sử của Trung Quốc vẫn tồn tại ở mức độ nào dưới UNCLOS, và điều gì được xem là cuộc thử nghiệm thích hợp về mặt pháp lý để phân biệt giữa một hòn đảo (được quyền hưởng một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) và bãi đá (được quyền hưởng vùng lãnh hải).

Ông Cohen nghiên cứu tỉ mỉ các lựa chọn mở cho Việt Nam, bao gồm việc tham gia cùng Philippines – hoặc đề xướng trọng tài UNCLOS cho riêng mình. Nếu Việt Nam gia nhập cùng Philippines, họ sẽ bổ sung thêm nguồn hỗ trợ pháp lý của nước này cho Manila. Nếu Việt Nam tự thách thức về đường chín đoạn, Cohen cho rằng, “trên thực tế, Việt Nam có thể nâng cao triển vọng rằng yêu sách bành trướng của Trung Quốc sẽ bị bác bỏ bởi hội đồng trọng tài Philippines, cũng như bởi bất kỳ toà án nào được thành lập trong vụ việc riêng của mình.”

Nếu Việt Nam muốn thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, nước này sẽ cần phải đưa vụ việc của mình ra Toà án Quốc tế. Mặc dù Trung Quốc sẽ từ chối tham gia, nhưng Việt Nam vẫn sẽ có lợi bằng cách chứng minh “với thế giới nguyện vọng chân thành của nước này cho cách giải quyết hoà bình, không thiên vị.” Bằng cách thực hiện hành động pháp lý như vậy, chính phủ Việt Nam cũng có thể xoa dịu dư luận trong nước.

Ông Cohen tiếp tục lập luận, “sự chân thành của Việt Nam sẽ càng trở nên rõ ràng hơn nếu nước này làm rõ thiện chí của mình, trong vụ kiện tụng có liên quan, bằng cách nộp lên Toà án Quốc tế tuyên bố chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa.”

Giáo sư Cohen đề nghị Nhật Bản nên xem xét khởi động một cuộc phân xử UNCLOS để thách thức đường chín đoạn của Trung Quốc. Ông Cohen cho rằng Mỹ, dù là một bên không tham gia UNCLOS, có thể khởi kiện chống lại đường chín đoạn của Trung Quốc trước Toà án Quốc tế mặc dù Trung Quốc sẽ từ chối tham gia.

Giáo sư Erik Franckx, một giáo sư luật quốc tế được thừa nhận và cũng là trọng tài viên tại Bỉ, cho rằng Việt Nam nên đệ trình chính thức cho Toà án Trọng tài để xem xét tuyên bố của Philippines nói rằng Việt Nam có mối quan tâm đến vấn đề này. Theo ông Franckx, các trọng tài viên sẽ đặc biệt lưu ý việc này.

Giáo sư Cohen cung cấp một số đề xuất sáng tạo để thúc đẩy vai trò của luật pháp quốc tế. Ông đề nghị thành lập các nhóm công tác gồm các học giả đến từ các quốc gia tuyên bố chủ quyền nhằm giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp và đề xuất giải pháp cho tranh chấp lãnh thổ.

Cohen đề xuất việc tạo ra các toà án tranh luận trung lập không chính thức được triệu tập tại một địa điểm trung lập để nghe những lập luận mà các quốc gia yêu sách có thể đưa ra nếu họ phải viện đến kiện tụng quốc tế.

Hệ luỵ Địa – chiến lược

Hội thảo và các thảo luận bàn tròn về các vấn đề địa – chiến lược cho thấy một sự tương phản tuyệt đối giữa luật pháp quốc tế và chính sách thực dụng.

Tiến sỹ Patrick Cronin, từ trung tâm An ninh mới của Mỹ, cho rằng “các quy định của pháp luật được xác định dựa trên ba điều: khả năng dự đoán hoặc độ tin cậy, minh bạch, và một cảm giác công bằng. Nhưng khả năng dự báo, mình bạch, và công bằng không nhất thiết phải là mục tiêu của Trung Quốc.”

Cronin cho rằng Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách cưỡng chế có điều chỉnh để phù hợp với Biển Đông. Sự cưỡng chế có điểu chỉnh của Trung Quốc bao trùm toàn bộ các công cụ chính sách khác nhau, từ “lực lượng hải quân và không quân, các cơ quan bảo vệ bờ biển và thực thi pháp luật, pháp luật trong nước và quốc tế, ngoại giao, cho đến thương mại, du lịch và năng lượng và tài nguyên”, ông nói. Trung Quốc có thể tuỳ ý tăng lên hoặc giảm xuống cường độ ngoại giao mang tính cưỡng chế của họ. Để đối đầu với việc sử dụng công cụ cưỡng chế của Trung Quốc, Cronin đề xuất năm ưu tiên chính sách.

Đầu tiên, Mỹ và Việt Nam nên phát triển các chiến lược nhằm vào tổn thất cụ thể để ngăn cản Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ và Việt Nam nên thực hiện các cuộc tập trận song phương thường xuyên hơn và quy mô lớn hơn.

Thứ ba, Mỹ cần hỗ trợ một tam giác đối thoại an ninh giữa Việt Nam, Malaysia, và Philippines.

Thứ tư, Mỹ nên chấm dứt lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam.

Thứ năm, Mỹ nên tạo sức ép lên tất cả các thành viện của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) “nhằm hỗ trợ các quy định cụ thể cho việc duy trì trật tự trên biển và bảo vệ sự tự do cho các tài sản toàn cầu trong Biển Đông.”

Subhash Kapila, một cựu tướng lĩnh trong quân đội Ấn Độ với nhiều kinh nghiệm về các vấn đề an ninh quốc gia, bày tỏ quan điểm một cách rõ ràng – Trung Quốc đang tìm kiếm sự thống trị toàn Biển Đông. Theo ông Kapila:

Các quy trình giải quyết xung đột và giảm thiểu nguy cơ ở cấp khu vực và quốc tế liên quan đến leo thang xung đột Biển Đông cần phải đối mặt với thực tế khó khăn rằng Trung Quốc sẽ có thể không bao giờ tham gia vào bất kỳ sự giải quyết nào trong tranh chấp Biển Đông. Trung Quốc không phải là giải pháp nhưng lại là trở ngại quan trọng nhất vì toan tính chiến lược của Trung Quốc đã được xác định rằng kiểm soát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là mệnh lệnh quân sự cho sự thống trị hàng hải hiệu quả tại Biển Đông.

Theo Kapila, Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược lớn nhằm đảm bảo bảo ba mục tiêu chính: nổi lên thành cường quốc tối cao ở Tây Thái Bình Dương và sau đó là châu Á – Thái Bình Dương; trở thành đối thủ ngang hàng với Mỹ; và thúc đẩy Mỹ từ bỏ sự hiện diện ở Thái Bình Dương.

Hội thảo quốc tế về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã kết thúc mà không đạt được bất kỳ một kết luận chính thức hay khuyến nghị chính sách nào.

Hội thảo phục vụ hai mục đích. Đầu tiên, cho đến năm ngoái, tất cả các cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Việt Nam đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Học viện Ngoại giao Việt Nam và Hội Luật sư Việt Nam tại Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh. Việc tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về Biển Đông tại thành phố Quảng Ngãi vào năm 2013 và hội thảo quốc tế lần thứ hai tại thành phố Đà Nẵng là một dấu hiệu cho thấy chính quyền trung ương đang phản ứng với áp lực từ bên dưới nhằm phơi bày đầy đủ các quan điểm về Biển Đông.

Thứ hai, hội thảo quốc tế năm nay tiếp xúc với các học giả Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách và khách nước ngoài cho một thảo luận tự do, có chiều sâu đáng kể về các vấn đề lịch sử, pháp lý và địa – chiến lược. Rõ ràng, Việt Nam đang vươn ra với cộng đồng quốc tế để tìm kiếm sự hỗ trợ và các khuyến nghị chính sách trong khi theo đuổi một chiến lược hiệu quả để đối phó với thách thức mới nhất của Trung Quốc về chủ quyền của Việt Nam.

 

Nguồn: Carl Thayer, “Lawfare or Warfare?: History, International Law and Geo-Strategy”, The Diplomat, ngày 4 Tháng Bảy năm 2014.

Bản Tiếng Việt © 2014 The Pacific Chronicle

Bạn cũng có thể thích ...

dai-hoi-12

Đại hội đảng CSVN thứ XII và Vai trò của nhà nước pháp quyền

Đọc tiếp →