Loading...
You are here:  Home  >  Nổi Bật  >  Current Article

Tại sao Trung Quốc muốn “vào hang bắt cọp” và “giết gà dọa khỉ”

Bởi   /   January 25, 2014  /   Comments Off on Tại sao Trung Quốc muốn “vào hang bắt cọp” và “giết gà dọa khỉ”

Hiểu được hai chiến lược quan trọng đối với Bắc Kinh, một về đối nội và một về đối ngoại.

Bởi J. M. NORTON  |  The Diplomat

Mai Xương Ngọc dịch

 

Lãnh đạo Trung Quốc đang thực hiện một chiến lược kép “vào hang bắt cọp” và “giết gà dọa khỉ.” Chiến lược đầu tiên là một cách tiếp cận nội bộ nhằm đưa một vài vị lãnh đạo quyền lực xuống để doạ những người thấp hơn. Chiến lược thứ hai là cách tiếp cận bên ngoài, trong đó các nhà lãnh đạo nhắm vào các cường quốc ít quyền lực hơn để giảm bớt vai trò hoặc ngăn chặn sự tham gia của một cường quốc lớn hơn.

 

“Vào hang bắt cọp” ? (Ảnh: Internet).

 

Chiến lược nội bộ nhằm loại bỏ các nhà lãnh đạo đáng gờm trước đây từng đứng đầu các tổ chức quyền lực trong các bộ phận quan trọng của hệ thống Trung Quốc, cụ thể là bộ máy nhà nước an ninh, các cơ sở quân sự, và lĩnh vực dầu mỏ. Các nhà lãnh đạo theo đuổi chương trình nghị sự của riêng họ và tranh giành quyền lực ở cấp cao nhất vào thời điểm trước, trong và sau giai đoạn chuyển tiếp của giới lãnh đạo hiện nay diễn ra khoảng hai năm về trước. Chiến lược bên ngoài liên quan đến Mỹ, cường quốc lớn hơn, cũng như Nhật Bản, Philippines, và ở một mức thấp hơn, Việt Nam, gọi chung là các cường quốc nhỏ hơn. Những quan sát này dẫn đến một số câu hỏi nổi bật. Đâu là những nhân tố chính bên trong và bên ngoài đối với các chiến lược đang diễn ra? Tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại theo đuổi hai chiến lược đó? Mục đích chung của họ là gì?

Các nhân tố chính của các chiến lược đó là gì?

Các nhân tố chính trong các chiến lược của giới lãnh đạo bao gồm hai yếu tố nội bộ và một yếu tố bên ngoài. Các yếu tố nội bộ được giải thích rõ nhất bằng “lý thuyết khủng hoảng.” Điều này có nghĩa các nhà lãnh đạo đang cố gắng quản lý các cuộc khủng hoảng trong nước vì chúng tạo ra những thách thức cho quyền lực hiện tại của giới lãnh đạo mới và đe doạ sự ổn định của nhà nước. Hiện nay, cuộc khủng hoảng đang diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, và, đến một mức độ thấp hơn, bây giờ trong đấu trường chính trị. Yếu tố bên ngoài bao gồm thay đổi cơ cấu đang xảy ra trong cấu trúc khu vực và đặc biệt là lĩnh vực an ninh; việc chuyển đổi khu vực này được thúc đẩy phần lớn bởi sự lãnh đạo của Mỹ. Các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác dụng đưa đẩy, nghĩa là, tình hình nội bộ của Trung Quốc ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại và hành động của nước này, đồng thời, những phản hồi do tình huống bên ngoài hệ thống tác động vào hệ thống trong nước và ảnh hưởng đến tình hình nội bộ Trung Quốc.

Trong lĩnh vực kinh tế, các nhà lãnh đạo đang đối phó với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chậm. Theo Charlene Chu, Giám đốc cấp cao của Fitch Ratings Trung Quốc, và một báo cáo gần đây của Fitch Ratings về ngân hàng Trung Quốc, “có một mối lo ngại tài chính vĩ mô quan trọng kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, đó là việc tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không có khả năng tạo ra bất kỳ lực kéo vững bền nào mà không cần mở rộng đáng kể tín dụng.” Hơn nữa, “tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng khoảng 87 phần trăm điểm trong vòng năm năm cho đến 2013, gần gấp đôi so với các nước khác trước khi xảy ra căng thẳng trong khu vực tài chính.” Những mối lo ngại “liên quan ít hơn đến mức độ tín dụng/GDP – số liệu trong khu vực ở mức 200% không phải chưa từng được nghe đến ở châu Á hay ở các thị trường đã phát triển – nhưng nhiều hơn là về sự gia tăng nhanh chóng trong thời gian ngắn như vậy.”

Tuy nhiên giới lãnh đạo có thể có thẩm quyền trong việc quản lý một nền kinh tế lớn đang dần suy thoái kinh tế bằng cách, ví dụ, khởi động các chính sách cho phép tiếp tục mở rộng tín dụng đáng kể và nới lỏng kiểm soát vốn nhằm đẩy mạnh tiêu dùng trong nước. Nhưng các chính sách bao hàm những rủi ro rõ rệt. Mở rộng tín dụng hơn làm gia tăng nhanh chóng tỷ lệ tín dụng/GDP trong khoảng thời gian ngắn, trong khi nới lỏng kiểm soát vốn có thể gây ra tình trạng tháo chạy vốn. Điều quan trọng hơn, giới lãnh đạo phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tiềm năng đang diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, và như ông Chu đang chỉ ra, đặc biệt là trong hệ thống ngân hàng ngầm. Trong trường hợp này, giới lãnh đạo có thể ít có khả năng quản lý khi xảy ra sự sụp đổ bất ngờ của một tổ chức ngân hàng lớn hoặc của các tổ chức ngân hàng ngầm, cũng như những ảnh hưởng còn sót lại từ thất bại bất ngờ như vậy, chẳng hạn như bất ổn xã hội.

Đối với giới lãnh đạo Trung Quốc, suy thoái kinh tế hoặc một cuộc khủng hoảng ngân hàng và tài chính, hoặc kết hợp lại, sẽ rất nguy hiểm trên nhiều cấp độ. Trí khôn thông thường cho rằng các nhà lãnh đạo đặt tính chính danh của Đảng vào sự phát triển kinh tế và tăng trưởng, do đó, một trở ngại lớn về kinh tế hay khủng hoảng đột ngột có thể làm suy yếu quyền lãnh đạo mới của Đảng. Tuy nhiên, quan trọng hơn là trí khôn đặc biệt. Các giới lãnh đạo từ Đại hội Đảng lần thứ 14 nhận thấy rằng suy thoái kinh tế có thể làm cho nhà nước dễ bị ảnh hưởng và bị lôi kéo từ nước ngoài. Lịch sử Trung Quốc cho thấy nhiều ví dụ tiêu cực về một nền kinh tế Trung Quốc suy nhược đã làm cho Trung Quốc dễ bị ảnh hưởng bởi các thế lực nước ngoài và dẫn đến những hậu quả bất lợi đáng kể cho nhà nước và xã hội như thế nào. Và khi Đảng Cộng sản thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, nó đã đặt cược uy tín của nó vào sự tăng cường Trung Quốc nhằm chống lại ảnh hưởng và kiểm soát nước ngoài cũng như duy trì chủ quyền quốc gia. Vì những lý do đó, cải cách kinh tế Trung Quốc – đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng – đã bước vào một giai đoạn phức tạp cho Đảng, nhà nước và xã hội.

Cải cách kinh tế hiện nay đang tiến triển phức tạp hơn bởi những rắc rối tuy đã giảm bớt nhưng vẫn đang diễn ra trong đấu trường chính trị từ những gì được cho là giai đoạn cuối của quá trình chuyển đổi lãnh đạo Trung Quốc. Trái ngược với quan điểm phổ biến rằng giới lãnh đạo hiện nay đã củng cố quyền lực nhanh chóng, các nhà lãnh đạo vẫn đang gỡ rối và xử lý một phe nhóm nội bộ phức tạp. Phe này bao gồm các cá nhân có ảnh hưởng, đó là những kẻ đã từng nắm giữ, và trong một số trường hợp vẫn đang nắm giữ những vị trí quyền lực trong các tổ chức lớn, cụ thể là bộ máy an ninh nhà nước, ngành dầu khí nhà nước và các cơ sở quân sự. Vấn đề phức tạp bởi vì các thể chế nhà nước được kết nối chặt chẽ: bộ máy an ninh được kết nối với các cơ sở quân sự; còn các cơ sở quân sự được liên kết chặt chẽ phần lớn với các ngành công nghiệp dầu khí nhà nước do sự chia rẽ Trung – Xô trong những năm 1960 đã dẫn đến tình trạng thiếu dầu và đẩy giới quân sự Trung Quốc vào tình trạng nguy hiểm. Trước thực tế này, tách toàn bộ các thành phần phe nhóm và loại bỏ từng kẻ tham gia cuộc chơi là mục tiêu khó có thể đạt được.

Tình hình nội bộ của Trung Quốc trở nên phức tạp hơn bởi những phát triển từ bên ngoài. Từ quan điểm của Trung Quốc, vấn đề chủ chốt bên ngoài là các nhà lãnh đạo Mỹ và chiến lược chuyển đổi kiến trúc an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương của họ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nắm rõ ý định của Washington: Tại sao Mỹ muốn mở rộng sự hiện diện quân sự của họ trong khu vực và dịch chuyển khoảng 60% lực lượng không quân và hải quân đến khu vực trong khi Mỹ đã có một sự hiện diện quân sự vượt trội hơn tại khu vực? Hơn nữa, một phần của chiến lược bao gồm sự hỗ trợ dành cho Nhật Bản và sự lớn mạnh của nước này để cân bằng lại sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sư phát triển này là nguyên nhân dẫn đến mối lo ngại giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc bởi vì logic quan hệ nhân quả trong phương trình Nhật – Trung là sai, vì Nhật Bản trong những năm 1950 đã bắt đầu tái vũ trang và trong đầu những năm 1990 đã bắt đầu chuyển đổi lực lượng tự vệ (SDF) của nước này thành một quân đội quốc gia. Kết hợp chúng với các yếu tố khác buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc thỏa mãn các nhu cầu từ các thành phần trong giới quân sự, và như tôi đã chỉ ra trước đây, từ luồng dư luận trong nước, để triển khai một đường lối cứng rắn đối với Nhật Bản, đặc biệt là khi liên quan đến chủ quyền quốc gia và các vấn đề lãnh thổ.

Chiến lược an ninh của Mỹ cũng bao gồm sự hỗ trợ ngoại giao và quân sự cho Việt Nam và Philippines, cũng như hỗ trợ họ trong các cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Đồng thời lãnh đạo Mỹ đã tạo ra, thông qua các liên minh và quan hệ đối tác mới và hiện tại, một Tổ chức Hiệp ước châu Á Thái Bình Dương (APTO) trên thực tế bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Việt Nam và Úc. Liên minh lỏng lẻo này không bao gồm Trung Quốc, và nhìn từ phía Trung Quốc, các chính sách an ninh Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ giống như một chính sách “tất cả các nước trừ Trung Quốc”. Theo những nguồn tài liệu mở ở Trung Quốc cho thấy, các tác động tổng hợp từ các chính sách an ninh là rõ rệt: các nhà lãnh đạo Mỹ muốn khuyến khích các nhà lãnh đạo khu vực trong việc trực tiếp thách thức Trung Quốc cũng như xây dựng và thúc đẩy các thoả thuận an ninh đa phương và song phương để ngăn chặn và bao vây Trung Quốc. Chính sách an ninh này gây ra hậu quả đối với hệ thống Trung Quốc bởi vì, như lý thuyết nghiên cứu hệ thống cho thấy, áp lực bên ngoài tác động vào hệ thống trong nước và thử nghiệm khả năng xử lý và thích ứng trước tình trạng căng thẳng của hệ thống nội bộ. Trong bối cảnh tình hình chính trị và kinh tế hiện nay của Trung Quốc, tình trạng bên ngoài này có thể làm tăng thêm căng thẳng nội bộ ngoài ý muốn, đảm bảo tạo ra những thay đổi hơn nữa trong chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia.

 

“Giết gà dọa khỉ” ? (Ảnh: Internet).

 

Ý đồ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc là gì?

Bằng cách theo đuổi các chiến lược kép “vào hang bắt cọp” và “giết gà doạ khỉ”, lãnh đạo Trung Quốc rất có thể muốn làm giảm bớt những ảnh hưởng từ áp lực nội bộ và bên ngoài, và đồng thời ổn định môi trường nội bộ lẫn bên ngoài.

Để đạt mục đích, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể tiếp tục duy trì cuộc đấu tranh chính trị nội bộ và củng cố quyền lực của họ. Các nhà lãnh đạo có thể sẽ đạt được những mục tiêu này thông qua các chiến dịch chống tham nhũng đang diễn ra. Những chiến dịch gần đây dẫn đến việc loại bỏ quyền lực của các nhà lãnh đạo đáng gờm, chẳng hạn như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, và Tương Khiết Mẫn (Jiang Jiemin). Vì những lý do hiển nhiên khác, các nhà lãnh đạo có thể sử dụng chỉ thị nội bộ để âm thầm loại bỏ quyền lực hoặc trừng phạt các nhà lãnh đạo quân sự có ảnh hưởng. Ví dụ, Uỷ ban Quân sự Trung ương Đảng (CMC) trong năm 2009 đã ban hàng một chỉ thị thành lập một hệ thống đánh giá trách nhiệm trong quân đội để sĩ quan quân đội cấp cao chịu trách nhiệm về hành vi của họ; ví dụ, các nhà lãnh đạo có thể sử dụng chỉ thị này để loại bỏ quyền lực của Trung tướng Cốc Tuấn San (Gu Junshan), nguyên Phó cục trưởng Cục Hậu cần của PLA.

Ngoài ra, giới lãnh đạo có thể tiếp tục thực hiện tái cơ cấu thể chế và điều chỉnh chính sách trong các bộ phận quan trọng, chẳng hạn như bộ máy an ninh, các cơ quan quân sự, và lĩnh vực dầu mỏ. Làm như vậy sẽ khiến cho các tổ chức này gần với trung ương hơn. Ví dụ, cuối năm ngoái, các nhà lãnh đạo tái cơ cấu bộ máy an ninh và thành lập Uỷ ban An ninh Nhà nước (SSC). Cải cách này đã khiến cho bộ máy an ninh gần với trung tâm hơn và đồng thời mở rộng sự kiểm soát của trung tâm đối với an ninh nội bộ.

Năm nay các nhà lãnh đạo có thể đưa ra những cải cách để giảm số lượng khu vực quân sự và lập ra cách quản lý tổng thể; cuộc cải cách tiềm năng này có thể được thúc đẩy bởi mong muốn khẳng định kiểm soát tốt hơn các cơ sở quân sự cũng như phản ánh quan điểm của giới lãnh đạo rằng giờ đây môi trường an ninh đang thay đổi bao hàm những thách thức an ninh khu vực khác nhau đe doạ đến an ninh và lợi ích quốc gia Trung Quốc. Và các nhà lãnh đạo có thể bắt đầu điều chỉnh và cải cách cơ cấu đầu tư trong lĩnh vực dầu khí nhà nước cũng như mở rộng quyền giám sát của Uỷ ban Quản lý và Giám sát Tài sản Nhà nước (SASAC) trong việc quản lý tài sản nhà nước nhằm phát huy quyền lực trung ương nhiều hơn đối với khu vực nhà nước quan trọng này. Logic đằng sau chiến lược “vào hang bắt cọp” rất có thể là tiếp tục loại bỏ quyền lực của quan chức cấp cao, những kẻ thách thức thẩm quyền và chương trình nghị sự của giới lãnh đạo hiện tại, cũng như cơ cấu lại các tổ chức nhằm giảm bớt các yếu tố bè phái đang suy yếu nhưng vẫn còn tồn tại, củng cố quyền lực, ổn định hệ thống nội bộ, và theo đuổi cải cách kinh tế.

Từ bên ngoài, tình hình trong nước khá mong manh buộc giới lãnh đạo sử dụng những lời lẽ ngoại giao mạnh mẽ, và như tôi nhìn thấy, các biện pháp “phòng thủ chủ động” đối với các cường quốc nhỏ hơn để tỏ vẻ cứng rắn bề ngoài. Các nhà lãnh đạo, do bởi các điều kiện và nhu cầu trong nước, phải có lập trường cứng rắn trong tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản, một kẻ thù lịch sử, và Phlippines, một nước chư hầu truyền thống. Thông qua đàm phán và áp lực kinh tế và ngoại giao, cũng như diễn tập quân sự, các nhà lãnh đạo cố gắng thuyết phục các nhà lãnh đạo Nhật Bản và Phlippines gác lại tranh chấp, hoặc đạt được một số thỏa thuận song phương để phát triển chung (như đã đạt được với Việt Nam). Nhưng quan trọng hơn, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không muốn Mỹ chen chân vào các cuộc tranh luận song phương chỉ đơn giản bởi vì các nhà lãnh đạo cho rằng những vấn đề này là vấn đề song phương.

Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn ngăn chặn Washington kích động các cường quốc nhỏ hơn có hành động trực tiếp chống lại Trung Quốc. Đồng thời, họ muốn tăng chi phí của các cường quốc nhỏ hơn khi tham gia chiến lược bao vây Trung Quốc do Mỹ dẫn đầu trong các vùng địa lý quan trọng như Biển Hoa Đông và Biển Đông. Mặc dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc tìm cách đẩy lui sự tham gia của Mỹ vào các vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt những vấn đề liên quan đến các cường quốc nhỏ hơn, họ cũng muốn giảm thiểu khả năng xảy ra một cuộc đối đầu trực tiếp hoặc một cuộc leo thang đối đầu với Mỹ bởi vì các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa nhận rằng Mỹ vẫn trội hơn về công nghệ, kinh tế và quân sự. Và có lẽ quan trọng nhất là các nhà lãnh đạo không muốn gây nguy hiểm đến quan hệ kinh tế Mỹ – Trung, đặc biệt là tại giao điểm quan trọng của cải cách kinh tế trong nước và việc đẩy mạnh chính sách ngoại giao mới để thúc đẩy ngoại giao kinh tế của Trung Quốc. Bằng cách nhắm vào các cường quốc nhỏ hơn, các nhà lãnh đạo có lẽ hy vọng sẽ ngăn cản được không chỉ sự can dự ngày một lớn hơn của Mỹ vào các vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt nhằm vào các vấn đề Trung Quốc và các cường quốc nhỏ hơn, mà còn cản trở được sự chuyển đổi kiến trúc an ninh khu vực hơn nữa dưới sự lãnh đạo của Mỹ, chẳng hạn như thả lỏng một Nhật Bản không bị kiềm hãm. Trong cách tiếp cận này, các nhà lãnh đạo rất có thể nhằm mục đích giảm thiểu áp lực đến từ sự thay đổi điều kiện an ninh khu vực bên ngoài vào hệ thống nội bộ Trung Quốc. Rất có thể đó là logic đằng sau chiến lược đối ngoại “giết gà doạ khỉ” của Trung Quốc.

 

[*] J. M. Norton giảng dạy môn quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại và hạn chế phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại trường Đại học Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh và đã sống ở Trung Quốc được 7 năm. Tiến sĩ Norton đảm nhiệm vai trò tư vấn cho các doanh nghiệp và chính phủ về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, Đông Bắc Á, và thương mại chiến lược quốc tế. Quan điểm được bày tỏ là thuộc về tác giả, không phải của Đại học Ngoại giao Trung Quốc.

Nguồn: J. M. Norton, “Why China Wants to ‘Strike the Mountain’ and ‘Kill the Chicken’”, The Diplomat, ngày 9 Tháng Giêng năm 2014.

Bản Tiếng Việt © 2014 The Pacific Chronicle

Bạn cũng có thể thích ...

dai-hoi-12

Đại hội đảng CSVN thứ XII và Vai trò của nhà nước pháp quyền

Đọc tiếp →