Loading...
You are here:  Home  >  Nổi Bật  >  Current Article

Tiếng vang năm 1914

Bởi   /   January 21, 2014  /   Comments Off on Tiếng vang năm 1914

Một thời đại kỳ lạ, nguy hiểm và quen thuộc đến kỳ cục – về sự suy thoái của cường quốc Mỹ, sự tái cân bằng toàn cầu, và sự bất bình đẳng sâu sắc – sắp xảy ra với chúng ta.

Bởi Gordon Adams  |  Foreign Policy

Minh Trang dịch

 

Chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể dự đoán được tương lai – mặc dù như nhà vật lý Niels Bohr đã từng lưu ý nhiều năm trước rằng rất khó dự đoán, đặc biệt là về tương lai. Nhưng trong những ngày đầu tiên của năm 2014 – năm đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ nhất – một số những mâu thuẫn và thách thức sắp diễn ra được nhận biết khá rõ rệt. Chúng ta sẽ nghe nhiều về cuộc nội chiến ở Syria, số phận chương trình hạt nhân của Iran, xung đột ở Iraq, sự rút lui của quân đội Mỹ khỏi Afghanistan – và thậm chí còn chưa nói đến việc ông Vladimir Putin sẽ phá hỏng kế hoạch sắp tới của ai đó, hoặc liệu chế độ Bắc Triều Tiên có sụp đổ hay không, và liệu Trung Quốc và các nước láng giềng có tăng cường xung đột về những đảo đá mà họ đều muốn được sở hữu hay không.

 

Mỹ vẫn tiếp tục tăng cường triển khai lực lượng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. (Ảnh: Internet)

 

Tuy nhiên, khi chúng ta nghĩ đến năm kỷ niệm này, có nhiều bất ổn sâu hơn đang diễn ra, chúng sẽ tác động và định hình khá nhiều mâu thuẫn kể trên. Điều này cũng đúng với 100 năm về trước. Triều đại vua Edward trước khi xảy ra cuộc Đại chiến đã ca ngợi quan điểm phổ biến rằng chiến tranh là lỗi thời, và sự thiếu quan tâm trong số những người giàu có về xu hướng gia tăng tình trạng khốn khổ trong hố ngăn cách về tiềm lực kinh tế và quyền lực giữa người giàu và người nghèo.

Tuy nhiên, ở thời điểm khởi đầu thế kỷ mới đó, nền tảng chính trị thế giới chuẩn bị chuyển đổi, trong khi mâu thuẫn giai cấp gia tăng và làm lung lay nền móng của các chế độ quân chủ ở lục địa châu Âu. Ở giữa hai luồng lực này, chúng sẽ xóa bỏ đế chế Áo-Hung, loại bỏ quyền lực hoàng gia ở Đức, đem cuộc khủng hoảng cách mạng đến Nga, làm suy yếu hệ thống thuộc địa được thiết lập bởi Pháp và Đức, và tạo ra một cường quốc mới, Hoa Kỳ, và biến nó trở thành trung tâm của vũ đài thế giới.

Đối với tất cả những khác biệt xảy ra trong thời điểm lịch sử hiện tại (dù có rất nhiều), có hai thách thức tương tự khá kỳ lạ nằm ẩn bên dưới những xung đột đã có thể dự đoán đó. Cả hai đều gây khó khăn trong cách xử lý cho các nhà hoạch định chính sách, và cả hai đều có thể báo hiệu sự thay đổi đáng kể đối với hệ thống quốc tế trong thập kỷ tới.

Cuộc xung đột đầu tiên trong số đó là sự suy thoái rõ rệt về khả năng hành động của quốc gia hùng mạnh nhất thế giới – Hoa Kỳ – trong vai trò là một quốc gia không thể thiếu, đặc biệt là khi ảnh hưởng của các quốc gia khác đang gia tăng và hệ thống toàn cầu đang tái cân bằng. Thứ hai là khoảng cách kinh tế giữa người giàu và người nghèo đang mở rộng, cả ở Mỹ và quốc tế. Tái cân bằng địa chính trị có tính hệ thống và khoảng cách giàu nghèo đã và đang định hình lại hệ thống quốc tế một cách cơ bản theo những cách khó có thể dự đoán, giống như các chính khách và chính trị gia của thế kỷ trước đã gần như không thể thấy trước cuộc xung đột xảy ra vào năm 1914.

Sự dịch chuyển quyền lực và tái cân bằng hệ thống quốc tế thậm chí còn gây khó khăn hơn nhiều trong việc điều chỉnh. Mỹ dường như vẫn là quốc gia quyền lực nhất trên thế giới. Nhưng đó là một cường quốc được đánh giá phần lớn ở một khía cạnh – sự sở hữu những lực lượng an ninh duy nhất thực sự toàn cầu trên thế giới: lực lượng quân sự và tình báo. Đó là thực tế trên bề mặt. Nhưng có điều gì đó rõ ràng đang diễn ra bên dưới thực tế của một sức mạnh quân sự đang làm suy giảm thế thượng phong của Mỹ trên trường quốc tế.

Sự suy giảm của Mỹ trong vai trò là nhà kết nối hệ thống, nhà quản lý, và, đối với một số nước, còn là bá chủ toàn cầu (một xu hướng mà tôi đã đề cập), tiếp tục bộc lộ ra một cách nhanh hơn. Gần đây nhất, nó được phản ánh qua thái độ xem thường các nguyện vọng và mục tiêu mà Mỹ đề cập đến – ví dụ như liệu Nhật Bản có nên tự tăng cường trang bị vũ khí và mở rộng phạm vi quân sự của họ vượt ra ngoài bờ biển của họ hay không. Nó nằm trong khoảng cách ngày càng gia tăng giữa Washington và đồng mình lâu năm của họ ở Ankara, khi chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đang gặp khó khăn đổ lỗi cho Hoa Kỳ vì các vấn đề tham nhũng trong nước và cuộc đấu tranh để khẳng định một vai trò độc lập trong khu vực. Trong khi đó, Ấn Độ công kích Hoa Kỳ vì bị cho là đã bạc đãi một nhà ngoại giao của họ ở New York, và cắt giảm những đặc quyền dành cho các nhà ngoại giao Mỹ ở New Delhi. Tương tự như vậy, đồng minh truyền thống khác là Saudi Arabia đang ngày càng không hài lòng với chính sách của Mỹ trong khu vực vùng Vịnh và thường hay phàn nàn và chỉ trích.

Nếu xét riêng từng sự việc, có thể thanh minh rằng chúng chỉ là sự cãi vã ngoại giao, chỉ là một việc đơn giản bình thường. Nhưng kết hợp lại, chúng đang tạo ra một xu hướng, buộc ngoại trưởng Mỹ John Kerry phải lặn lội từ nước này sang nước khác để cố gắng làm giảm độ nóng của xung đột. Dường như có sự công nhận rằng mọi thứ đang thay đổi một cách căn bản – chỉ cần nhìn vào sự miễn cưỡng rõ rệt của chính quyền Obama trong việc sử dụng quyền lực để can thiệp vào vô số các cuộc xung đột bao quanh Trung Đông và châu Phi. Hãy trao quyền thực thi hòa bình ở châu Phi cho Liên minh châu Phi, Liên Hợp Quốc, hoặc người Pháp. Đừng đem Thủy quân lục chiến đến. Nên đứng bên rìa cuộc xung đột của Syria, đừng can thiệp trực tiếp. Khuyến khích một giải pháp hòa bình cho các vụ tranh chấp ở các vùng biển ngoài khơi Trung Quốc, nhưng đừng hứa sẽ gửi tàu chiến của Hoa Kỳ tiến vào tâm điểm của những vùng biển căng thẳng. Và nhiều biện pháp khác nữa.

Tôi không nghĩ rằng Washington đã hoàn toàn nắm bắt một cách đầy đủ về thực tế của sự thay đổi hệ thống. Vẫn chưa có một chiến lược rõ ràng để đối phó với một thế giới đang thay đổi liên tục. Nhưng dù sao thì một vài thực tế dường như cũng đã được hiểu thấu. Đầu tiên, dường như có một sự công nhận rằng, mặc cho tính ưu việt toàn cầu của quân đội Mỹ, sự can thiệp quân sự đã đánh mất sự ủng hộ quốc tế mà nó từng có được, một phần là kết quả của sự thất bại trong việc sử dụng vũ lực ở Iraq và Afghanistan. Ở cả hai nước này, không nước nào đạt được sự ổn định, không thiết lập được nền dân chủ hay tạo ra sự phát triển kinh tế – trong khi nền an ninh khu vực xung quanh hai quốc gia này hiện còn trở nên bất ổn hơn cả lúc trước khi bị Mỹ can thiệp quân sự. Những quốc gia khác, và dân chúng của họ, ngày nay có một cái nhìn hằn học hơn so với trước kia về sự lãnh đạo, những ý định và khả năng của Mỹ.

Sự hoài nghi toàn cầu về cách sử dụng quyền lực cứng của Washington đã bị làm trầm trọng thêm khi phạm vi hoạt động của “quyền lực thầm lặng” trong lĩnh vực tình báo Mỹ bị vạch trần. Những sự thật mà gã Snowden phơi bày cung cấp chứng cứ cho mức độ xâm nhập toàn cầu của Mỹ đối với thông tin liên lạc cá nhân, công cộng và chính phủ đang lan tỏa một cách nhanh chóng. Và tác dụng phụ là có thật: Đầu tiên, Tổng thống Brazil Dilma Rousseff hủy bỏ chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhà Trắng vì cơ quan tình báo NSA đã nghe trộm các cuộc nói chuyện cá nhân của bà. Các đồng minh truyền thống là Đức và Pháp cũng đều cảm thấy tức giận. Các chính phủ khác đang tìm cách để bảo vệ và hệ thống thông tin và liên lạc của họ khỏi sự xâm nhập từ Mỹ.

Thứ hai, giống như các phản ứng quốc tế tiêu cực trước sự triển khai sức mạnh của Mỹ ở nước ngoài, đã có một sự thay đổi đáng kể trong quan điểm trong nước về bản chất của chính sách đối ngoại Mỹ và về thái độ của công chúng trong việc sẵn sàng tán thành sự triển khai quyền lực cứng nhiều hơn nữa vào các cuộc xung đột quốc tế. Cuộc thăm dò mới nhất của tổ chức Pew về những vấn đề này phản ánh mức độ không tích cực. Hơn một nửa số người được hỏi nghĩ rằng Hoa Kỳ “nên quan tâm đến vấn đề của riêng họ trên trường quốc tế và để các quốc gia khác hành xử một cách tốt nhất có thể bằng chính bản thân họ.” Ý kiến này vượt quá mốc điểm của cuộc bỏ phiếu trước đó cũng về câu hỏi này vào năm 1976, cú bạt tai vào thời điểm hậu chiến Việt Nam. Còn 70 phần trăm công nhận rằng Mỹ đã đánh mất sự tôn trọng quốc tế, mức cao tương đương con số dưới thời ông Bush vào năm 2008.

Những gì chúng ta thấy ở đây là một sự thay đổi quan điểm sâu sắc trong góc nhìn lịch sử của người Mỹ về vai trò toàn cầu của họ – một sự tái khẳng định, không phải của chủ nghĩa biệt lập, mà là của một cam kết thực tế hơn dưới một dạng khác. Thay vì gửi Thủy quân lục chiến ra nước ngoài để ‘tìm kiếm những con quái vật để hủy diệt” (điều mà John Quincy Adams đã từng cảnh báo vào năm 1821), người Mỹ dường như đang nói rằng chúng ta nên can dự thông qua, chẳng hạn như sức mạnh ngoại giao, và đặc biệt là thông qua các phương tiện kinh tế. Nói cách khác: Chúng ta đừng nhúng mũi vào vấn đề của người khác, hãy giải quyết những vấn đề của chúng ta ngay tại trong nước, và để quân đội của chúng ta luôn ở thế sẵn sàng đối phó. Kể cả khi những người lính đã tham gia chiến đấu để giải phóng thành phố Fallujah khỏi những kẻ khủng bố chỉ trong vài năm về trước cũng đồng ý rằng – ngay bây giờ, Mỹ cần phải đứng ngoài.

Tất nhiên là việc nhận thức rằng tái cân bằng đòi hỏi phải xem xét lại chính sách của Mỹ và tính chất can dự của Mỹ không phải là điều được ưa chuộng rộng rãi ngay tại trong nước. Đối với những người ủng hộ “sức mạnh” như Thượng Nghị sỹ John McCain và Lindsey Graham, sự do dự trong cách hành xử của chính quyền Obama là một sai lầm chính trị cần bị chỉ trích, không phải là do thực tế toàn cầu. Đã đến lúc phải nói chuyện cứng rắn, gửi quân đội đến Syria, khẳng định sự lãnh đạo ở đây, cho các nước khác biết họ nên làm gì, vì những lợi ích tốt đẹp.

Vấn đề của việc sử dụng sức mạnh như một câu trả lời nằm ở chỗ, chúng ta đang ở trong giai đoạn thay đổi hệ thống, thay vì vai trò thông thường như mọi khi. Tổng thống Geogre W. Bush từng thử những biện pháp cứng rắn và đã không chỉ thất bại trong việc đạt được mục tiêu của ông ta, nhưng qua đó, đã đẩy nhanh xu hướng tái cân bằng. Cố gắng để khôi phục lại “trật tự cũ” sẽ không chỉ là tự chuốc lấy thất bại, mà còn nguy hiểm là làm trầm trọng thêm mối lo ngại toàn cầu về sự sáng suốt và những ý định trong vai trò của Mỹ. Thế giới đã thay đổi. Trở thành kẻ bắt nạt quá cứng rắn sẽ chỉ dẫn đến việc Mỹ nhận lại một cú đáp trả toàn cầu, dẫn đến những xung đột quân sự mà họ không dự định can dự. “Vần điệu lịch sử” (có lẽ được gán cho Mark Twain một cách không chính xác) ở đây của 100 năm trước là khá rõ ràng: Hãy nhìn vào mức độ an ninh giả định mà các quốc gia Châu Âu nghĩ rằng họ sẽ đạt được bằng cách trang bị vũ khí trong những năm trước thời điểm 1914. Hệ thống đang tái cân bằng, nhưng trật tự cũ không thể được bảo toàn bằng vũ khí.

Một điểm giống nhau đến kỳ lạ khác so với thời kỳ của 100 năm trước là sự hồi sinh của những sự phân biệt sâu sắc trong các nền kinh tế quốc gia và toàn cầu. Tác giả đoạt giải Pulitzer, ông Hedrick Smith, không phải là người duy nhất ghi chép lại sự thay đổi lớn trong thu nhập và của cải trong số những người siêu giàu ở Mỹ trong cuốn sách năm 2013 của ông ta, “Who Stole the American Dream?” (tạm dịch: Ai đã đánh cắp giấc mơ Mỹ?). Sự biến mất của tầng lớp trung lưu Mỹ là một hiện tượng kinh tế, xã hội, và cuối cùng là một hiện tượng chính trị có một ý nghĩa to lớn, làm đảo ngược huyền thoại đã thống lĩnh nước Mỹ trong thập niên 1950 và 1960. Nó đang ngày càng chia tách người siêu giàu ra khỏi những thành phần còn lại – còn được gọi là thành phần 99 phần trăm. Hố ngăn cách đã đẩy nước Mỹ tụt hạng trong danh sách toàn cầu xếp hạng các quốc gia dựa trên chênh lệch thu nhập. Ngày nay, bất bình đẳng thu nhập ở Mỹ, được đo bằng tỷ lệ Palma (khoảng cách giữa nhóm 10 phần trăm giàu nhất và nhóm 40 phần trăm nghèo nhất) cho thấy Mỹ xếp hạng thứ 44 trên 86 quốc gia, thấp hơn hầu hết các quốc gia đã công nghiệp hóa – thậm chí dưới cả Nigeria, Ấn Độ, Iran, và Ai Cập.

Một xu hướng tương tự về bất bình đẳng được nhận thấy ở nhiều quốc gia khác trên thế giới mà nhiều nhà phân tích tin rằng sẽ dẫn đến một làn sóng bất ổn toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế chậm ở Ấn Độ có thể dẫn đến nguy cơ bất ổn. Những rãnh nứt trong sự phân bố không đồng đều về thu nhập và của cải ở Trung Quốc có liên quan đến sự mất ổn định ở địa phương. Cơn tức giận trên khắp vùng Trung Đông có thể không chỉ liên quan đến căng thẳng tôn giáo và chính trị, mà còn liên quan đến sự kháng cự ngoan cố trong các nền kinh tế khu vực để cho phép tăng trưởng theo cách có thể tạo ra cơ hội cho hàng triệu thanh thiếu niên có học vấn, nhưng thất nghiệp.

Ở triều đại vua Edward, sự gia tăng của cải được xem là một xu hướng tích cực, một xu hướng sẽ mở ra một kỷ nguyên thịnh vượng khắp nơi về kinh tế. Thay vào đó, nó lại phản ánh những gì giáo sư của trường đại học Princeton, ông Samueal Hynes, đã mô tả như một thế giới của “sự chia rẽ và tình trạng bấp bênh đáng lo ngại,” nơi mà tầng lớp thượng lưu Anh của “những người giàu vô trách nhiệm, sống trong một thế giới thô tục mới, và những người nghèo mới, rất xa lạ, sống trong những thế giới xấu xa mới, đã thay thế sự phân chia giai cấp cũ gồm tầng lớp quý tộc và nông dân.” Mâu thuẫn xã hội là một kết quả không thể tránh khỏi.

Chúng ta rõ ràng đang bước vào thời kỳ của quá trình chuyển đổi chính trị và kinh tế toàn cầu, khi bờ an toàn rõ ràng đang xa dần. Chúng ta đang đứng trong làn sóng thay đổi, khi những bờ an toàn mới – sự cân bằng quốc tế mới nổi và nền kinh tế toàn cầu – vẫn còn chưa rõ ràng. Sẽ rất khó khăn để lèo lái chính sách ngoại giao của Mỹ trong năm 2014 và nhiều năm sau nữa. Một số nước sẽ muốn bám vào sự ổn định rõ ràng được bảo đảm bởi sức mạnh quân sự Mỹ; trong một thế giới “bấp bênh,” họ sẽ nói rằng sự thống trị quân sự là công cụ tốt nhất của quyền lực.

Nhưng bám vào công cụ đó có thể dẫn thẳng đến những mâu thuẫn gây bất ổn. Và sự thất bại trong việc cùng lúc phải đối phó, trên bình diện quốc gia và quốc tế, với hố ngăn cách kinh tế, có thể làm trầm trọng thêm xung đột theo những cách nguy hiểm và không thể dự đoán. Chào mừng bạn đến với năm mới.

 

[*] Gordon Adams hiện là giáo sư môn quan hệ quốc tế thuộc khoa Quốc tế trường Đại học Mỹ và là cố vấn chuyên môn tại Trung tâm Stimson.

Nguồn: Gordon Adams, “Echoes of 1914“, Foreign Policy, ngày 10 Tháng Giêng năm 2014.

Bản Tiếng Việt © 2014 The Pacific Chronicle

Bạn cũng có thể thích ...

dai-hoi-12

Đại hội đảng CSVN thứ XII và Vai trò của nhà nước pháp quyền

Đọc tiếp →