Loading...
You are here:  Home  >  Nghệ Thuật  >  Current Article

Tranh dân gian Hàng Trống

Bởi   /   January 6, 2016  /   Comments Off on Tranh dân gian Hàng Trống

Mỹ Thuật  |  The Pacific Chronicle

Trang Thanh Hiền giới thiệu

 

Tranh dân gian Đông Hồ

Những bức tranh đậm chất truyền thống Việt

Chương trình sự kiện “Cùng bé sáng tạo – Khám phá tranh Tết”

Thông cáo báo chí – Dự án “Cùng bé sáng tạo – Khám phá tranh Tết”

large_Bà-chúa-Thu-ng-thiên

Tranh Hàng Trống: Bà Chúa Thượng Ngàn

Tranh Hàng Trống là dòng tranh dân gian xưa được sản xuất và bày bán chủ yếu tại các phố Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Hòm và Hàng Quạt thuộc tổng Tiêu Túc (sau đổi là Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương (nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Nhiều nhất vẫn tập trung ở phố Hàng Trống, nên người ta lấy tên phố đặt cho tên của dòng tranh. Bên cạnh các hộ dân cư bản địa lâu đời, có khá nhiều thợ vẽ và thợ khắc tài hoa từ nơi khác đến đây làm thuê cho các chủ xưởng in tranh. Do buôn bán cạnh tranh, các nhà sản xuất tranh thường in kèm tên hiệu như Thanh An, Vĩnh Lợi, Phúc Bình.

Tranh Hàng Trống có hai loại chủ yếu: tranh thờ và tranh Tết. Tranh thờ thì có tranh Phật, Tam Toà Thánh Mẫu, Tứ phủ, Ngũ Hổ… gắn liền với Đạo Mẫu của người Việt. Tranh Tết thì có các loại: Chúc phúc, Tứ quí, Tố Nữ, tranh Công, Tranh Cá, Tranh ban thờ …

Ngũ Hổ

Tranh Hàng Trống: Ngũ Hổ

Cũng như Đông Hồ, tranh Hàng Trống ra đời khoảng thế kỷ 16, và chịu ảnh hưởng đậm nét của các luồng tư tưởng, văn hóa, tôn giáo. Tranh Hàng Trống kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo, đặc biệt là Đạo Mẫu. Các tác phẩm tranh thờ, người ta như vẽ lại cả một điện Mẫu uy nghi đẹp đẽ. Các tác phẩm đó phục vụ cho nhu cầu của giới thị dân mua, treo trong không gian thờ cúng của tư gia vốn không quá rộng rãi, nhưng vẫn đầy đủ hình tượng, như một ban thờ thu nhỏ. Không chỉ vậy, dòng tranh Tết của Hàng Trống còn là sự ảnh hưởng của dòng tranh Niên họa, Chúc phúc du nhập từ Trung Quốc. Chính từ ảnh hưởng này, đã lan tỏa tiếp đến làng Đông Hồ khiến cho rất nhiều tác phẩm có mặt trong dòng tranh thị thành lại cũng có mặt trong dòng tranh thôn dã, tạo ra các giá trị riêng biệt. Tuy nhiên trong tranh Hàng Trống nhiều tác phẩm là hoàn toàn xuất phát từ văn hóa của người Việt, như tranh Ngũ Hồ, tranh Thánh Mẫu.

Phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ, tới thế kỷ 20 do biến cố lịch sử và sự thay đổi cơ bản về văn hóa sau năm 1975 dòng tranh này bắt đầu suy tàn. Hầu như các nhà làm tranh đều bỏ nghề, nhiều nhà còn đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc. Một số bản khắc tranh Hàng Trống cổ hiện còn giữ lại đến ngày nay chủ yếu ở Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam. Trên một số ván khắc có ghi cả niên đại “Quý Mùi lục nguyệt khởi Minh Mệnh tứ niên”, tức là 1823 dương lịch (bộ ván lưu tại Bảo Tàng Lịch sử Quốc gia). Hiện nay ở Hà Nội, còn lại duy nhất nhà nghệ nhân Lê Đình Nghiên còn vẽ và in tranh. Ông sinh năm 1950, là con trai cụ Lê Đình Liệu sinh năm 1912. Theo gia đình cho biết, đây là nghề gia truyền từ đời cụ tổ từ khoảng cuối thế kỷ XVI. Gia đình nhà ông Nghiên hiện nay còn giữ được khoảng hơn 50 ván tranh khắc cổ của Hàng Trống xưa.

tứ phủ

Tranh Hàng Trống: Tứ Phủ

Khác với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống mang một bản sắc riêng và thẩm mỹ của dân thị thành. Khuôn khổ của tranh Hàng Trống cũng lớn hơn nhiều so với các dòng tranh dân gian khác. Ván khắc tranh chỉ có duy nhất một ván nét với đường nét tinh tế thanh mảnh. Những tranh như: Ngũ Hổ, Công, Cá cho thấy một kỹ thuật khắc gỗ đạt đến trình độ tuyệt sảo, đáp ứng nhu cầu chơi tranh của giới thị thành. Tranh Hàng Trống dẫu chỉ trải qua hai công đoạn in và vẽ thôi, nhưng nó đã làm nên cả một thế giới quan của người Việt. Ván khắc được lăn mực đều sau đó đặt giấy lên sao cho thật phẳng dùng bàn xoa vuốt lên mặt sau của tờ giấy cho những nét khắc được hiện hình. Sau khi đã có nét, tranh Hàng Trống bắt đầu được tô màu bằng bút lông hoặc bút thép. Cách tô màu của tranh Hàng Trống cũng hết sức đặc biệt. Bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, khiến cho nét bút khi đặt xuống mặt giấy đã có hai sắc độ đậm nhạt khác nhau.

Sau khi vẽ nét xong, tranh Hàng Trống thường được bồi bằng ba đến bốn lớp giấy vì đặc thù của tranh khắc gỗ chỉ cho những đường nét đẹp trên một nền giấy mỏng (thường là giấy báo hay giấy xuyến chỉ, cao cấp hơn là nền lụa). Những chất liệu này sẽ khiến tranh có một hiệu ứng màu tốt. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ mầu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh. Một số bộ tranh khổ to và dài, các nghệ nhân bồi thêm phần bo, trên dưới lồng suốt trục để tiện. Lối thức này cũng là kiểu chơi tranh ảnh hưởng từ Trung Quốc. Vậy nên, tranh Hàng Trống yêu cầu tinh tế hơn so với tranh khổ “lá mít” Đông Hồ, chỉ đơn giản là dán lên vách đất nhà xưa ở nông thôn. Các tranh trục cuốn này dường như ăn nhập với không gian sập gụ tủ chè trên những vách nhà cao rộng chốn thị thành.

vo chong ngau

Tranh Hàng Trống: Vợ Chồng Ngâu

Ngoài ra, đặc sắc của tranh Hàng Trống còn là tranh vẽ tay từng bản. Ván khắc chỉ duy một ván, tạo thành xương cốt cho bức tranh, còn lại màu sắc hay các chi tiết trong tranh lại do bàn tay tài hoa của người nghệ nhân làm nên. Chính việc “tô tranh” hoàn thiện mới là công đoạn tạo nên hồn cốt của tác phẩm. Một số tác phẩm tranh Hàng Trống, do là đặt hàng với khuôn khổ riêng, nên nghệ nhân vẽ tay hoàn toàn, mà không có công đoạn in. Các lớp màu tô trong tranh cũng không hoàn toàn giống nhau giữa các bức. Có một khuôn mẫu, nhưng tùy theo nghệ nhân mà các sắc thái đó được tô vẽ như thế nào. Do đó tranh Hàng Trống có thể xem là thể loại tranh vẽ nhân bản, mà mỗi bức mang một giá trị riêng.

Màu sắc trong tranh Hàng Trống cũng có những nét riêng so với các dòng tranh. Các màu được sử dụng không hoàn toàn là màu tự nhiên, mà còn có thêm màu phẩm. Các màu đặc trưng riêng cho nghệ thuật tranh Hàng Trống chính là màu lam, hồng. Màu phẩm đó đã làm nên một thần thái riêng. Ví dụ như bức Cá chép trông trăng của Hàng Trống, khác hẳn với tác phẩm cùng chủ đề của Đông Hồ. Các màu tươi rói khác như lục, đỏ, da cam, vàng… cũng được vận dụng. Tuy nhiên tất cả các màu đó được sử dụng một cách tài tình với hệ thống nét đen của màu tự nhiên lấy từ than lá tre ủ kỹ, khiến cho các tác phẩm tranh Hàng Trống rực rỡ cuốn hút nhưng cũng hết sức tao nhã.

bon mua1

Tranh Hàng Trống: Bốn Mùa (Mùa đông/ tứ bình)

Kỹ thuật làm màu tự nhiên cũng giống như công thức trong tranh Đông Hồ. Để tạo ra được một loại màu tốt, các nghệ nhân phải ủ, phải sắc như sắc thuốc bắc, phải cô đặc dần bằng cách đun nhỏ lửa liên tục mấy ngày trời rồi lại lắng cặn, chắt nước. Đây cũng là bí quyết riêng của mỗi nhà khắc in vẽ tranh Hàng Trống. Những màu sắc sau khi có được, có thể pha với keo hoặc pha với hồ nếp để tạo vẻ óng ả và trong trẻo. Sau này, Hàng Trống cũng nhập thêm các màu hiện đại.

bon mua

Tranh Hàng Trống: Bốn Mùa (Mùa xuân/ tứ bình)

Đề tài của tranh Hàng Trống rất phong phú. Dòng tranh thờ thịnh hơn dòng tranh chơi. Đặc biệt vào Tết cổ truyền, dân gian có nhu cầu thay dọn ban thờ, thì các tranh cũng được thay, hoặc thêm vào. Các tranh như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông hoàng Bẩy, Tam Tòa, Thánh Mẫu Thượng Ngàn… Các bức tranh thờ Đạo Mẫu thì thường dựa trên các sự tích, truyền thuyết về các vị Thần, Phật, Thánh Mẫu để vẽ. Những bức vẽ Thánh Mẫu như: Tam Toà Thánh Mẫu, hay Thánh Mẫu Địa, Thoải, Thượng ngàn, không chỉ thể hiện ra sự kính ngưỡng với những vị Mẫu nghi thiên hạ của dân gian, mà còn thể hiện ra những sự tinh tế trong trang phục, sự tao nhã của lối sống sang quí và mang hồn cốt của người Việt. Tính chất cân bằng, đăng đối trong tác phẩm cũng thể hiện. Vị thế các nhân vật trong tranh cũng thể hiện rõ ngôi vị và vai trò của mình. Nhân vật trung tâm/ quan trọng bao giờ cũng được thể hiện kỹ càng nhất, thậm chí kích thước của những nhân vật này lớn hơn hẳn các nhân vật khác được vẽ trong tranh. Bức tranh Ngũ Hổ còn thể hiện ra quan niệm về thế giới qua màu sắc ngũ hành. Tất cả được mã hóa và hình ảnh các vị chúa Sơn Lâm, biểu trưng cho sức mạnh. Hổ vàng (Hoàng hổ) ngồi chính giữa tranh tượng trưng cho hành thổ – ứng với trung ương chính điện; Hổ xanh (Thanh Hổ) tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông; Hổ trắng (Bạch Hổ) là hành Kim ứng với phương Tây. Hổ đỏ (Xích hổ) là hành Hỏa ứng với phương Nam; Hổ đen (Hắc hổ) là hành Thủy ứng với phương Bắc. Sự sắp đặt của các nhân vật này trong tranh đã tạo nên vòng tuần hoàn của nguyên lý Ngũ hành tương sinh tương khắc. Do vậy vào dịp lễ tết, các tranh này thường được mua về, với quan niệm tạo thêm sinh khí của một năm mới no ấm, sung túc.

bon mua 2

Tranh Hàng Trống: Bốn Mùa (Mùa hạ/ tứ bình)

Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như: bộ tranh Tố nữ, Bốn mùa; Các bức tranh theo tích như Thúy Kiều, Nhị độ mai hoặc những bức phỏng theo các vở tuồng cũng được ưa chuộng mua về treo trong phòng khách. Những bức tranh chơi này thường được bán vào dịp Tết, phục vụ cho giới thị dân trang hoàng nhà cửa đón một năm mới thanh bình và sang trọng. Mỗi bức tranh lại mang một thông điệp riêng, thể hiện quan niệm và nhân sinh quan của người Việt xưa về cuộc sống.

So với các dòng tranh dân gian, Tranh Dân gian Hàng Trống có thể xem là dòng tranh thể hiện những nét tinh hoa dân tộc đậm sắc nhất. Trong đó triết lý sống được bộc lộ, kỹ thuật tay nghề và gu thẩm mỹ Việt đặc trưng cho văn minh đô thị xưa.

bon mua 3

Tranh Hàng Trống: Bốn Mùa (Mùa thu/ tứ bình)

 

* Bộ tranh Hàng Trống được sưu tập bởi NST Nguyễn Thu Hòa.

Nguồn: Trang Thanh Hiền, The Pacific Chronicle, ngày 6 tháng Giêng năm 2016.

© 2016 The Pacific Chronicle

Bạn cũng có thể thích ...

dai-hoi-12

Đại hội đảng CSVN thứ XII và Vai trò của nhà nước pháp quyền

Đọc tiếp →