Loading...
You are here:  Home  >  Diễn Đàn  >  Current Article

Vì sao Mùa Xuân Ả Rập chỉ gặt hái những kết quả khiêm nhường?

Bởi   /   November 13, 2013  /   Comments Off on Vì sao Mùa Xuân Ả Rập chỉ gặt hái những kết quả khiêm nhường?

Bởi J. Brownlee, T. Masoud, A. Reynolds  |  The Washington Post

Ngọc Hoà dịch

 

[WP: Sau đây là một bài báo của các nhà khoa học chính trị Jason Brownlee (Đại học Texas), Tarek Masoud (Đại học Harvard), và Andrew Reynolds (Đại học Bắc Carolina – Chapel Hill) về tài liệu nghiên cứu gần đây của họ đăng trên Tạp Chí Dân chủ (Journal of Democracy) “Vì sao chỉ gặt hái kết quả khiêm nhường?”.]

 

Trong mọi điều bất ngờ đã xảy ra, có lẽ không có điều gì về Mùa Xuân Ả Rập lại gây ngạc nhiên như chính kết quả khiêm tốn của nó. Sự kiện đầy kịch tính, sự phấn khích, và ý thức về điều có thể xảy ra trong cái đêm ông Bin Ali đào tẩu sang Ả Rập Xê Út hay sự kiện ông Mubarak từ chức đã nhường chỗ cho một thực tế ảm đạm. Trong số 21 quốc gia là thành viên của Liên đoàn Ả Rập, chỉ có sáu nước phải trải qua những thách thức đối với chế độ của họ, và chỉ trong bốn nước dẫn đến cuộc lật đổ các nhà độc tài. Thành tích đáng thất vọng của Mùa Xuân Ả Rập – vì đã tạo cảm hứng ít hơn so những cuộc cách mạng Đông Âu năm 1989 (mà chúng thường được so sánh), hoặc so với các quá trình chuyển đổi chính trị ở tiểu vùng sa mạc Sahara của châu Phi trong những năm đầu thập niên 1990 – đòi hỏi phải có một câu trả lời. Tại sao chỉ có Tunisia, Ai Cập, Yemen, và Libya có thể lật đổ các nhà độc tài của họ, trong khi ở những nơi khác, các cuộc nổi dậy lắng xuống, bị đàn áp đến cùng, hoặc không thành hiện thực ở ngay bước đầu tiên?

 

Mùa Xuân Ả Rập: 18 ngày làm chấn động thế giới (Ảnh: Internet)

 

Bài viết về các vấn đề hiện tại của chúng tôi trong Tạp chí Dân chủ trình bày những gì mà chúng tôi cho là lời giải thích đầu tiên về những hậu quả chính trị từ các cuộc nổi dậy Ả Rập năm 2010 đến năm 2012. Chúng tôi tìm cách giải thích đầy đủ biên độ xảy ra biến động: từ khả năng chống trả của chế độ độc tài ở những nơi như Algeria và Ả Rập Xê Út ở đầu này, cho đến sự chuyển đổi khó khăn nhưng vẫn còn hy vọng của Tunisia ở đầu kia. Những bài viết trước đây đã tập trung vào các yếu tố gắn liền với các sự kiện, chẳng hạn như tính phổ biến của các công cụ mạng xã hội và thái độ của quân đội. Chúng tôi nới rộng quãng thời gian để xem xét các yếu tố lịch sử và cơ chế có tính quyết định đối với cán cân quyền lực giữa giới cầm quyền và phe đối lập.

Khi khảo sát khu vực một cách toàn diện, chúng tôi nhận thấy rằng không có những điều kiện tiên quyết về mặt cơ cấu dẫn tới nổ ra cuộc nổi dậy: Về cơ bản, việc các cuộc biểu tình lan rộng một cách ngẫu nhiên có nghĩa là một loạt các chế độ phải đối mặt với những thách thức có tính đại chúng. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng sự thành công của một chiến dịch trong nước nhằm lật đổ kẻ cai trị bị chi phối bởi hai yếu tố có tính tiên quyết về mặt cơ cấu: sự giàu có bởi dầu mỏ (cho phép kẻ cai trị có đủ nguồn lực để ngăn chặn hoặc kiềm chế những thách thức), và tiền lệ về sự kế vị có tính cha truyền con nối của chế độ (biểu thị sự trung thành cao độ của các lực lượng đàn áp đối với cơ quan hành pháp). Chế độ nào thiếu nguồn thu dầu mỏ lớn và không thiết lập sự kế vị cha truyền con nối bị sụp đổ một cách tương đối nhanh chóng và bất bạo động trước cuộc nổi dậy trong nước. Ngược lại, ở nơi nào mà các nhà độc tài kế thừa quyền cai trị (có thể thông qua chủ nghĩa quân chủ truyền thống hoặc chủ nghĩa cộng hoà thối nát), hoặc nắm trong tay nguồn thu dầu mỏ to lớn, thì lực lượng đàn áp của họ vẫn duy trì đủ độ trung thành và gắn kết để tiến hành các cuộc đàn áp tàn bạo.

Những nghiên cứu trước đây đã xem xét một cách đúng đắn rằng dầu mỏ là một bức tường thành chống lại sự thay đổi chế độ. Tuy nhiên, nếu xuất khẩu dầu mỏ chặn đứng cuộc nổi dậy, vậy tại sao chế độ Syria lại tồn tại quá lâu trước các đối thủ trong nước? Các học giả khác chỉ ra độ vững bền đặc biệt của các quốc vương Ả Rập. Nhưng nếu nền cộng hòa Ả Rập dễ bị tổn thương hơn, vậy tại sao Syria vẫn tránh khỏi sự thay đổi chế độ? Câu trả lời của chúng tôi nằm ở giao điểm của các biến số này (xem bảng). Chúng tôi cho rằng triều đại cai trị (cho dù là dưới hình thức quân chủ hoặc “cộng hòa”) và nguồn thu dầu mỏ có tác dụng như những biến số bổ sung lẫn nhau. Chỉ một trong hai đặc điểm như vậy là đủ để đảm bảo rằng chế độ sẽ duy trì quyền lực, trong khi một chế độ không có cả hai đặc điểm đó sẽ bị sụp đổ nhanh chóng một khi áp lực quần chúng và sự đào ngũ trong quân đội bắt đầu lớn dần.

 

Những chế độ đã ra đi và những chế độ còn ở lại với Mùa Xuân Ả Rập.

 

Bằng cách chỉ ra rằng các cơ cấu chính trị và kinh tế mang tính di truyền tác động như thế nào đến tiềm năng thành công của các cuộc nổi dậy, chúng tôi cân nhắc kỹ giữa sự nhấn mạnh tự nhiên vào lòng can đảm và can trường của những người biểu tình và sự xem xét nghiêm túc đối với những trở ngại mà họ phải đối mặt và tiếp tục phải đối mặt. Những đường hướng dẫn tới thay đổi hoặc đàn áp không tự dựng xuất hiện sau khi ông Mohammed Bouazizi tự thiêu vào ngày 17 Tháng 12 năm 2010. Chế độ sụp đổ hoặc tồn tại dựa vào nguồn lợi ích và khả năng đàn áp hiện có. Nhiều học giả đã viện dẫn những yếu tố trên để giải thích tính phổ biến của chế độ độc tài trong khu vực trước khi cuộc nổi dậy bắt đầu, và Mùa Xuân Ả Rập, không những không bác bỏ các học giả đó, mà dường như đã tạo ra nhiều dữ liệu mới để củng cố cho họ.

Lý thuyết của chúng tôi đề xuất việc cần phải đưa ra hai điều chỉnh cơ bản khi nghiên cứu về Mùa Xuân Ả Rập và phong trào dân chủ nói chung. Thứ nhất, những sự can thiệp nước ngoài là yếu tố bất ngờ có tính quyết định đối với lực lượng đối lập ở Trung Đông. Theo cách tiếp cận cấu trúc của chúng tôi, Libya năm 2011 không nằm trong bảng bị lật đổ chế độ. Nguồn thu dầu mỏ cho phép ông Moammar Gaddafi dư thừa lực lượng đàn áp để dập tắt bất kỳ cuộc nổi dậy nào trong nước. Nhưng ông ta không phải chỉ đối mặt với một cuộc nổi loạn trong nước, mà còn phải đối mặt với một liên minh quân sự quốc tế do NATO dẫn đầu. Dưới những điều kiện như vậy, chế độ Libya đã bị sụp đổ mặc dù giàu có về dầu mỏ. Sự can thiệp của nước ngoài san bằng những trụ cột của một chế độ độc tài bền vững trong nước. Ở mức độ nhất định, khi thiếu vắng những sự can thiệp nước ngoài tương tự đối với các chế độ độc tài Ả Rập khác – những nơi hưởng thụ sự giàu có nhờ dầu mỏ, chế độ cha truyền con nối hoặc cả hai – nhiều khả năng là chế độ sẽ tiếp tục tồn tại.

Thứ hai, quan trọng hơn, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng một số hình thức tham nhũng có thể giúp chế độ duy trì quyền lực, và ngược lại, tính mong manh của các chế độ gia đình trị độc tài nhất có thể đã được đánh giá quá cao. Cụ thể, ở Syria và Bahrain, triều đại cai trị cho thấy nó không phải là những nhà nước yếu kém, tồi tệ về mặt thể chế, mà là sự liên kết chặt chẽ giữa những kẻ độc tài và bộ máy đàn áp.

Điều này đặt ra nghi vấn về ý tưởng cho rằng chỉ là một vấn đề thời gian cho đến khi các triều đại ổn định của Jordan, Morocco, và Saudi Arabia sẽ phải nhường bước  cho những đòi hỏi phổ quát về nhân phẩm và tự do. Lý thuyết của chúng tôi dự đoán rằng, nếu những đòi hỏi đó xuất hiện, các chế độ này sẽ không đáp ứng lại những thách thức như vậy bằng cách chuyển đổi chính nó, tống tiễn kẻ chuyên quyền ra nước ngoài sống lưu vong, và đàm phán cách phá bỏ trật tự cũ. Những chế độ quân chủ, (và triều đại cộng hòa) nào đã thu gom vào tất cả các mối liên kết quyền lực và đặc quyền vẫn có thể bị sụp đổ, nhưng sẽ chỉ bị sụp đổ bởi bạo lực.

Những dự đoán nghiêm túc này nhằm khắc phục một cách hữu ích sự lạc quan thái quá mà Mùa Xuân Ả Rập đã tạo ra lúc ban đầu. Những cảnh tượng ngoạn mục của đám đông thanh niên hiền hòa reo hò chiến thắng trước những kẻ độc tài cố thủ đã gợi ý – một cách sai lầm – rằng con đường hướng tới dân chủ đã bắt đầu mà không thể đảo ngược. Vụ thu hoạch đạm bạc của Mùa Xuân Ả Rập, một kinh cầu cay đắng cho các cuộc nổi dậy thất bại, “cuộc chuyển đổi” bị ngừng lại hoặc bị đảo ngược, và tính tiếp nối của chủ nghĩa độc tài cho thấy một tiến trình đang vận động mà thiếu vắng đích đến, trong khi các cơ cấu chính trị có tính di truyền vẫn còn rất quan trọng. Trái quả của Mùa Xuân Ả Rập đã bị hái sớm. Thay đổi chế độ hơn nữa sẽ phải là những thay đổi cơ cấu sâu rộng hơn, dự kiến sẽ phải mất nhiều thời gian hơn 18 ngày.

 

Nguồn: J. Brownlee; T. Masoud; A. Reynolds, “Why the Modest Harvest of the Arab Spring?“, The Washington Post, ngày 21 Tháng Mười 2013.

Bản Tiếng Việt © 2013 The Pacific Chronicle

Bạn cũng có thể thích ...

american_flag

Dân chủ, Tự do và Bánh táo không phải là chính sách ngoại giao

Đọc tiếp →